Thơ tình hàn mạc tử ❤️️ chùm thơ về tình yêu hay nhất

Nhận định 4: Hoài Thanh nhận xét về hàn Mặc Tử: “…Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng…” và “Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh…”

Sinh thời, nhà thơ Chế Lan Viên từng nhận định: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”.

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Nhận định về Hàn Mặc Tử. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp chi tiết, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé! 

Nhận định 1: “Hàn Mặc Tử: Trữ tình gợi cảm trong điên cuồng đau thương”

Mỗi khi nhắc đến Thơ mới – một trong những thời đại thi ca rực rỡ bậc nhất của văn học Việt Nam, cái tên Hàn Mặc Tử, bao giờ cũng hiện ra trong tâm trí của độc giả, đặc biệt là những người yêu thơ ca bởi lẽ ông đã trở thành tượng đài lớn.

Trong tạp chí Ngày mới xuất bản năm 1940, Chế Lan Viên từng nhận định “Mai sau, những cái tầm thường, mực thước sẽ biến đi và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”.

Bạn đang xem: Nhận định về Hàn Mặc Tử

Thơ của Hàn Mặc Tử thấm đẫm chất trữ tình chủ đạo của thời đại thi ca đó, nhưng vẻ trữ tình của ông mang nét khác hẳn. Nó không lao thẳng vào cảm xúc người đọc một cách thuần khiết như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, cũng không chỉ mang màu sắc lãng mạn tương trưng như Xuân Diệu, Huy Cận, Đinh Hùng, Bích Khê…

Nó là sự hòa quyện tài tình của tượng trưng và siêu thực. Vì thế mà thơ hàn mặc tử không “truyền cảm” mà “gợi cảm” sâu xa để người đọc tha hồ suy tưởng rồi run lên vì hay quá, điên quá, táo bạo quá!

Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi. Chất trữ tình trong thơ ông thủơ ban đầu là chất trữ tình cổ điển, với lối so sánh ước lệ và cách gieo vần theo thể Đường luật. Điều đó được thể hiện rõ trong tập Lệ Thanh thi tập của ông:

Tuy nhiên, ngay trong những bài thơ Đường luật ấy, mầm mống của sự cách tân khác biệt đã bắt đầu lộ rõ. Đó là ngày 11/10/1931, ba bài thơ gồm: Chùa hoang, Gái ở chùa và Thức khuya (hay còn có tên khác là Đêm không ngủ) được in trên Thực dân Nghiệp báo có ký tên P.T (tức Phong Trần).

Ba bài thơ này đã được Ông già Bến Ngự – Phan Bội Châu chú ý và hết lòng khâm phục. Cũng vẫn là thơ trung đại đấy, nhưng nội dung thơ đã chẳng còn ngâm vịnh gió trăng hay bàn đến hào khí anh hùng, mà bao trùm lên đó là nhục cảm và thân xác, điều gần như cấm kỵ thời bấy giờ lại là hai yếu tố chính trong thơ Hàn Mặc Tử.

Thật chẳng quá lời khi có người nói rằng, Hàn Mặc Tử đã thực sự đưa thơ ca Việt Nam sang một giai đoạn mới, phá tung xiềng xích của lễ giáo cũ kỹ, chật cứng trong xã hội cổ, để mở ra một không gian mới, một hành trình khám phá mới cho nghệ thuật chỉ với hai câu thơ:

Ở thời điểm đó, đã làm gì có ai dám “điên” như Hàn Mặc Tử, “leo song” rồi “rờ rẫm” đều là những động từ nhạy cảm và có tính gợi cảm cực kỳ cao độ, mùi xác thịt nằm cả ở gió trăng.

Trong nhiều bản in, bạn đọc sẽ bắt gặp “sờ sẫm gối” thay vì “rờ rẫm gối”, em trai Hàn Mặc Tử là Nguyễn Bá Tín cho rằng có thể do người bạn thân Quách Tấn đã sửa, để câu thơ trở nên lịch sự hơn nhưng vô tình lại làm mờ đi ý đồ của tác giả khi muốn mang lại cảm giác ram ráp, rạo rực cho người đọc hơn là sự nhẵn bóng, trơn tru của âm “s” trong từ miêu tả.

Nhờ có cái chất trung đại từ thủơ ban đầu ấy, mà sau này khi Hàn Mặc Tử chuyển sang thơ mới, ông lập tức định vị được cái vẻ trữ tình riêng biệt cho mình thật khác với các thi nhân cùng thời. Chính bởi căn cốt phương Đông đã ăn sâu mà sự tượng trưng của thơ ông mang dáng vẻ Đường thi, rõ hơn nữa là tính siêu thực đậm chất liêu trai “điên cuồng” với trăng, hồn và máu.

Đọc thơ của Hàn Mặc Tử, có khi người ta cảm thấy bứt rứt kinh khủng bởi lối nói đậm vẻ phương Đông vừa lộ liễu vừa kín đáo. Thơ ông không áp đặt người đọc phải cảm nhận những gì ông cảm nhận, những con chữ chỉ đóng vai trò đòn bẩy, là phương tiện mở ra những liên tưởng độc đáo, làm bật lên cảm xúc riêng biệt trong mỗi người, từ đó mà ta đón nhận những mỹ cảm một cách tròn đầy hơn, đã đời hơn mà reo lên thích thú:

Chúng ta đều biết, Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong, những ngày tháng cuối đời trong trại phong Quy Hòa – Bình Định cũng là lúc chất trữ tình siêu thực trong đau thương, điên cuồng trở nên rõ rệt nhất.

Cái thực – cái ảo vốn đã nằm sẵn trong ông, và nay khi căn bệnh nan y xuất hiện làm chấn động tâm lý, kéo thi nhân vào nỗi đau cùng cực của cả tinh thần lẫn thể xác, thì những ẩn sâu đó được phát lộ mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Ông tan biến vào thế giới của riêng mình ở các bài thơ, nhìn vạn vật đẹp mà đầy “đau thương”, “sao bông phượng nở trong màu huyết/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”. Có những lúc, người đọc không khỏi rùng mình ám ảnh bởi những vần “thơ điên”, thơ hay nhưng xót xa quá, xót cho con người cuồng loạn mê man trong miền không gian hư ảo:

Thật may mắn rằng, dù có mộng mị đến đâu, siêu thực nhường nào, thơ của Hàn Mặc Tử vẫn có yếu tố lãng mạn níu kéo. Sự hòa hợp tài tình này, đã khiến cho “đau thương” trong cuộc sống thường ngày của ông trở nên lộng lẫy, kỳ ảo, huyền bí bằng phương tiện ngôn từ. Thơ ông quả thực có sức “gợi cảm” mạnh liệt tới tận đáy sâu tâm hồn của tất cả những ai thưởng thức nó.

Nhận định 2: Hàn Mặc Tử – người hiền viết ‘Thơ điên’

Nói đến Hàn Mặc Tử là nhớ tới một “Mùa xuân chín” trong veo tới yếu lòng: “Trong làn nắng ửng khói mơ tan. Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc. Trên giàn thiên lý bóng xuân sang”; đến “Đây thôn Vĩ Dạ” với những yêu thương tới thổn thức: “Sao anh không về chơi thôn Vỹ? Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên. Vườn ai mướt quá xanh như ngọc. Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

Nhưng nói tới Hàn Mặc Tử cũng lại nói tới “Thơ điên” với những vần thơ đau đớn, quằn quại, với những giây phút “hộc ra trăng” trong cô đơn tận cùng của người thơ…

Âu cũng bởi cuộc đời bất hạnh đã khiến con người trong trẻo, yêu đời, yêu người tha thiết ấy phải điên, phải cuồng, phải loạn. Chính bởi vậy, niềm thương với ông càng chan chứa hơn…

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, ông sinh ngày 22/9/1912, tại Lệ Mỹ (Đồng Hới, Quảng Bình), trong một gia đình theo đạo Công giáo, ông là con thứ tư trong gia đình có 8 anh chị em. Anh trai cả của Hàn Mặc Tử là Nguyễn Bá Nhân (tức nhà thơ Mộng Châu), cũng chính là người đã dìu dắt ông trên con đường thơ văn.

Hàn Mặc Tử sinh ra vốn đã ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Do thân phụ là ông Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn, ký lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở, nên Hàn Mặc Tử cũng đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Qui Nhơn, Bồng Sơn (1921 – 1923), Pellerin Huế (1926).

Hàn Mặc Tử làm thơ từ rất sớm, khi mới 16 tuổi, với các bút danh Lệ Thanh, Phong Trần. Năm 21 tuổi, Hàn Mặc Tử quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, làm ở Sở Đạc Điền. Ở Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người, và đây cũng chính là mối tình sâu đậm nhất trong đời nhà thơ bất hạnh.

Theo gia đình Hàn Mặc Tử kể lại, thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông. Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa gì đó không đáng kể. Cho đến năm 1936, khi ông xuất bản tập “Gái quê”, rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ Phụ nữ tân văn, quyết định mời Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Nhưng ý ông là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại “phong ngứa” gì đấy, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y. Năm 1938 – 1939, Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội. Tuy nhiên, ở bên ngoài thì không ai nghe ông rên rỉ than khóc. Ông chỉ gào thét ở trong thơ mà thôi.

Xem thêm :  Xóa tan nắng nóng oi bức với 3 loại chè trái cây giải nhiệt cực thơm mát

Do thời ấy mọi người đều cho rằng bệnh phong là căn bệnh truyền nhiễm nên bao nhiêu bệnh nhân đã bị hắt hủi, cách ly, xa lánh thậm chí bị ngược đãi. Hàn Mặc Tử cũng không là ngoại lệ. Bị người đời hắt hủi, ông đã bỏ tất cả quay về Quy Nhơn, vào nhà thương Quy Hòa (20/ 9/1940) mang số bệnh nhân 1.134, và từ trần tại nhà thương này vì chứng bệnh kiết lỵ, khi mới bước sang tuổi 28.

Cuộc sống ngắn ngủi, nhưng di sản thơ mà Hàn Mặc Tử để lại cho đời cũng đủ để ông trở thành một nhà thơ của thi đàn “Thơ Mới” sánh cùng Xuân Diệu, Huy Cận…

Nói về Hàn Mặc Tử, Hoài Thanh – Hoài Chân, tác giả của cuốn “Thi nhân Việt Nam” nổi tiếng đã dành cho ông những lời nhận xét thật sự đầy ưu ái: “Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mạc Tử nhiều lắm. Có người bảo: “Hàn Mạc Tử? thơ với thẩn gì! toàn là nói nhảm”. Có người còn nghiêm khắc hơn nữa: “Thơ gì mà rắc rối thế! mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình!”.

Nhưng tôi cũng đã nghe những người ca tụng Hàn Mạc Tử. Trong ý họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mạc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mạc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mạc Tử đâu có phải chuyện dễ. Đã khúc mắc mà lại nhiều: tất cả đến sáu bảy tập. Họ thuộc hết và chọn những lúc đêm khuya thanh vắng, họ sẽ cao giọng, ngâm một mình. Bài thơ đã biến thành bài kinh và người thơ đã trở nên một vì giáo chủ”.

Những ngày viết “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh – Hoài Chân đã dành tới ngót 1 tháng chỉ để đọc thơ Hàn Mặc Tử. Và cũng như độc giả yêu thơ Hàn Mặc Tử, họ theo ông suốt cả “vườn thơ rộng rinh không bờ bến”, để mang theo cảm giác “càng đi xa càng ớn lạnh”, ớn lạnh bởi thơ chính là tiếng khóc của người thơ, vốn không hề kêu tiếng nào trong những ngày bệnh tật hành hạ, và chỉ “thét lên bằng thơ”.

Hàn Mặc Tử khi hiện diện bằng “Gái quê” (1936), thật có đôi chút bình dị. Thơ ông lúc ấy trong trẻo, dễ dàng, và có phần “giông giống những ai đó”. Như nhận xét của Hoài Thanh – Hoài Chân, đó là “Nhiều bài có thể là của ai cũng được. Còn thì tả tình quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ bình dị”. Thế nhưng, trong cái giông giống thời cuộc ấy, vẫn có chút gì riêng của ông trong một tình yêu “không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối tình ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre, những đồi thông. Ấy là một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy hình ảnh khêu gợi”.

Nhưng có lẽ đến khi “nhập cuộc” với “Thơ điên” (1938), mới là lúc Hàn Mặc Tử có đất thể hiện mình. Dường như nỗi đau của bệnh tật, của sự cô đơn đã khiến ông “rút ruột làm thơ”, rút ruột tâm sự với người bạn thân – người tri âm tri kỷ duy nhất của ông lúc này: Vầng trăng!

“Thơ điên” gồm 3 tập: “Hương thơm” – “Mật đắng” – “Máu cuồng” và “Hồn điên”. Và ở mỗi tập, thì cảm xúc của Hàn Mặc Tử lại một bùng nổ hơn.

Với “Hương thơm”, đó là “mảnh đất” nơi có ánh trăng, ánh nắng, tình yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói.

Với “Mật đắng”, cảm xúc đã “bùng” lên hơn với những “lời thơ như dính máu”.

Và với “Máu cuồng” và “Hồn điên”, thì hoàn toàn là một thế giới của Hàn Mặc Tử – một thế giới trăng, toàn trăng. “Trăng ở đây cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo và cũng náo nức dục tình. Hàn Mặc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra, và rú lên những tiếng ghê người…”.

Nếu chỉ có vậy, đã đủ để thương người thơ lắm rồi. Nhưng càng thương hơn, khi thật ra trong những phút giây hoảng loạn ấy, ông vẫn yêu cuộc sống lắm, nó thể hiện trong những câu thơ đôi khi trong trẻo tới bất ngờ của ông. Như “Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ. Đầy mình lốm đốm những hào quang”. Hay như “Ta bay lên! Ta bay lên! Gió tiễn đưa ta tới nguyệt thiềm. Ta ở cõi cao nhìn trở xuống: Lâng lâng mây khói quyện trăng đêm”…

Đọc thơ Hàn Mặc Tử nhiều, yêu thương cả những câu chuyện, vở kịch viết về ông cũng nhiều, đôi khi vẫn cứ mang trong lòng một cảm giác trách cuộc đời đã “bất nhẫn” với ông, khiến cả cuộc đời ông không có nhiều những phút vui. Âu cũng bởi, dường như ngay trong cái bút danh ông chọn cho mình, cũng đã “tiền định” những bất hạnh mà ông gánh chịu.”Hàn Mạc Tử”, bút danh ông chọn năm 1936, có nghĩa là “chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải”. Sau đó bạn bè gợi ý ông nên vẽ thêm mặt trăng khuyết vào bức rèm lạnh lẽo để lột tả cái cô đơn của con người trước thiên nhiên, vạn vật. “Mặt trăng khuyết” đã được “đặt vào” chữ “Mạc” thành ra chữ “Mặc”. Hàn Mặc Tử có nghĩa là “chàng trai bút nghiên”!

Nhận định 3: Hàn Mặc Tử – Một hiện tượng thơ độc đáo trong tư duy thơ Việt Nam

Sinh thời, nhà thơ Chế Lan Viên từng nhận định: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”.

Thật vậy, trong làng Thơ mới, Hàn Mặc Tử là thi sĩ có diện mạo thơ vô cùng phong phú, sáng tạo và đầy bí ẩn. Bên cạnh những vần thơ điên, thơ say, thơ siêu thực là một giọng thơ trữ tình, đằm thắm, thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết, khao khát tình người đến cháy bỏng. 

“Ánh sáng” khác thường Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22/9/1912 tại ngôi làng Lệ Mỹ bên dòng Nhật Lệ, nay thuộc thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Hàn Mặc Tử bộc lộ một tài năng thơ ca từ rất sớm. Năm 16 tuổi, ông đã bắt đầu làm thơ và nổi tiếng trên thi đàn với bài thơ đầu tiên “Vội vàng chi lắm” họa vận bài Gởi nhạn của nhà thơ Mộng Châu. Thơ Hàn Mặc Tử thuở ban đầu mang đậm dấu cổ thi, chất trữ tình trong thơ ông là chất trữ tình cổ điển, với lối so sánh ước lệ và thể thơ Đường luật. Tuy nhiên, dẫu bắt đầu bằng những khuôn mẫu nhưng thơ của Tử đã mầm mống xuất hiện những phá cách đầy táo bạo:

Từ năm 1935, ông đổi bút hiệu thành Lệ Thanh, rồi Hàn Mặc Tử. “Hàn Mặc Tử” là “chàng bức rèm lạnh” hay “chàng đơn lạnh”. Cái tên ấy dường như đã ứng với dự cảm về những năm cuối trên đỉnh thơ cô đơn, lẻ lạnh của riêng ông.

Năm 1936, Hàn Mặc Tử cho xuất bản tập “Gái quê” lừng danh và cũng chính lúc này ông phát hiện mình bị bệnh phong. Gần cả cuộc đời phải chống chọi với bạo bệnh, cũng là gần trọn cuộc đời, thi sỹ luôn đấu tranh cho khát vọng được sống, được yêu đến quằn quại, đau đớn. Tuy nhiên cũng nhờ những đau khổ trong cuộc đời, cộng với bản năng sáng tạo đã chắp cánh cho thi ca Hàn Mặc Tử, đưa ông lên đỉnh cao của văn chương, nghệ thuật hiện đại. Từ những năm ba mươi của thế kỷ, trong tư duy nghệ thuật của mình, Hàn Mặc Tử đã có ý thức đi tìm cái lạ và nung nấu thi hứng sáng tạo ở một cường độ cao: “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ – sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui buồn hờn giận đến gần đứt sự sống”. Thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử vô cùng phong phú và đa dạng như ông đã từng nói: “Vườn thơ của tôi rộng rinh không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh “.

Trữ tình gợi cảm trong đau thương

Trong cuốn: “Hàn Mặc Tử: một hiện tượng thơ độc đáo trong tư duy thơ Việt Nam”, nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy cho rằng: “Nếu Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính là dòng lãng mạn thuần khiết, nếu Xuân Diệu và nhất là Huy Cận, là dòng lãng mạn được cườm vào những yếu tố tượng trưng… thì Hàn Mặc Tử là hài hòa của lãng mạn, tưởng tượng, thậm chí siêu thực nữa”. Có lẽ chính từ cuộc sống mỏi mòn trong bệnh tật, cô đơn, trong bóng đêm hoang hoải đầy ác mộng, ẩn ức, ám ảnh giữa thực và mộng của ông đã thăng hoa từ vô thức mà bừng lên những hình ảnh siêu thực trên cái nền lãng mạn: “Không gian dày đặc toàn trăng cả/ Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng”, “Nước hóa thành trăng trăng ra nước/ Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm”…

Xem thêm :  Top 8 quán bánh bèo hải phòng khiến bạn ngây ngất khó quên

Đọc thơ của Hàn Mặc Tử, có khi người ta cảm thấy bứt rứt kinh khủng bởi lối nói đậm vẻ phương Đông vừa lộ liễu vừa kín đáo. Thơ ông không áp đặt người đọc phải cảm nhận những gì ông cảm nhận, những con chữ chỉ đóng vai trò đòn bẩy, là phương tiện mở ra những liên tưởng độc đáo, làm bật lên cảm xúc riêng biệt trong mỗi người, từ đó mà ta đón nhận những mỹ cảm một cách tròn đầy hơn, đã đời hơn mà reo lên thích thú:

Đôi bàn tay của một con người mắc bệnh phong đang co quắp vì đau đớn, nhưng càng đau đớn, đôi bàn tay ấy càng khát khao, thèm muốn níu giữ lấy cuộc đời níu giữ lấy tình đời. Dường như nhà thơ cố dồn hết sức lực của mình vào đôi bàn tay để “riết”, để “níu”, để “ràng rịt” với cuộc đời. Và cũng có những lúc đôi bàn tay ấy xòe ra thật rộng, nhà thơ như cởi hết lòng để yêu, để viết và để hòa mình với thiên nhiên với cuộc đời thơ mộng:

Nhà thơ đã mở rộng “túi thơ” của mình để đón nhận và để dâng hiến. Nói chuyện tâm hồn mà vẫn giản dị như đời thường. Ngay cả trong những câu thơ hay nhất, mang chiều kích rộng lớn, bao la của vũ trụ ông vẫn dùng cách nói như thế:

Giáo sư Lê Đình Kỵ đã nhận xét: “Không ai ngoài Hàn Mặc Tử có thể viết như thế… Câu thơ mang chiều kích của vũ trụ mà vẫn tự nhiên như không, siêu thoát mà vẫn trần tục với chuyện Rách rưới, Vá víu, Vải vóc”.

Một trong những tiêu chuẩn để đánh giá tài năng nghệ sĩ là cái lạ, cái độc đáo. Thơ ca Hàn Mặc Tử lạ trong cách suy nghĩ, lập ý, so sánh, trong cách dùng từ ngữ, hình ảnh. Và cái lạ nhất là một con người phải trải qua những nỗi đau thể xác và tinh thần ghê gớm như vậy nhưng giọng thơ nói chung không bi quan mà luôn mơ ước, hướng tới thế giới vĩnh hằng “tứ thời xuân non nước”. Bên những vần thơ điên loạn với ngập tràn ý tưởng của hồn, trăng, và máu, người ta còn biết đến những bài thơ trong sáng như ca dao, ngọt lành như trái chín với cái nhìn trẻ trung, lãng mạn mà bí ẩn của thi nhân. Đó là nhân vật trữ tình của một thời: “Hai mươi mốt tuổi, tuổi như hoa”. Với bao hy vọng của tuổi trẻ: Ra đời ta thấy đời vui sao/ Đầy cả say sưa với ngọt ngào…/ Lúc ấy lòng ta như rạo rực/ Bâng khuâng thèm uống rượu Quỳnh Dao/ (Chạy theo hạnh phúc).

Hàn Mặc Tử đã gắn bó tâm hồn mình với thiên nhiên đất nước, với những không gian đã từng chứng kiến bao kỷ niệm vui buồn, được mất trong cuộc đời và tình duyên của thi nhân. Lạ lùng thay với Hàn Mặc Tử, “những địa danh cụ thể cũng trở thành huyền ảo”, cũng nên thơ với Đà Lạt trăng mờ, Đây thôn Vĩ Dạ, Phan Thiết! Phan Thiết. Tình quê hương trong cách cảm, cách nghĩ của thi sĩ không chỉ là tình người, tình đời như thơ Nguyễn Bính hay là bức tranh quê như trong thơ Bàng Bá Lân, Anh Thơ mà là tiếng vọng của tâm linh, với những hình ảnh gợi cảm, giàu nhạc điệu: Mây chiều còn phiêu bạt/ Lang thang trên đồi quê/ Gió chiều quên ngừng lại/ Dòng nước luôn trôi đi/ Ngàn lau không tiếng nói/ Lòng anh dường đê mê…/ Tiếng buồn trong sương đục/ Tiếng hờn trong luỹ tre/ Dưới trời thu man mác/ Bàng bạc khắp sơn khê (Tình quê).

“Mùa xuân chín” và “Đây thôn Vĩ Dạ” là những bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử. Với “Mùa xuân chín”, thiên nhiên trong thơ như không có đường viền. Trong cái không gian khoáng đạt, phóng túng ấy ẩn náu một cái tôi trữ tình tài hoa, đầy dự cảm của thi nhân: Trong làn nắng ửng khói mơ tan/ Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng/ Sột soạt gió trêu tà áo biếc/ Trên giàn thiên lý bóng xuân sang/ Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời/ Bao cô thôn nữ hát trên đồi/ – Ngày mai trong đám xuân xanh ấy/ Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.

Ngày 11/11/1940, Hàn Mặc Tử đã trút hơi thở cuối tại nhà thương Quy Hoà. Ngôi sao ấy xẹt qua bầu trời thi ca Việt nhưng đã kịp để lại vầng sáng lạ lùng và dữ dội. Nửa đời người chưa qua hết nhưng Hàn Mặc Tử đã làm tròn sứ mệnh của mình, để lại cho nền văn học Việt Nam một đời thơ giá trị. Thật đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã nhận định: “Mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, còn lại chút gì trên đời này đáng kể, đó chính là Hàn Mặc Tử”… 

Nhận định 4: Hoài Thanh nhận xét về hàn Mặc Tử: “…Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng…” và “Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh…”

Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mạc Tử nhiều lắm. Có người bảo: ‘Hàn Mạc Tử? thơ với thẩn gì! toàn là nói nhảm.’ Có người còn nghiêm khắc hơn nữa: ‘Thơ gì mà rắc rối thế! mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình!’ Xuân Diệu có lẽ cũng nghĩ đến Hàn Mạc Tử trong khi việt đoạn này: ‘Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: tôi điên đây! tôi điên đây! — Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống.’

Nhưng tôi cũng đã nghe những người ca tụng Hàn Mạc Tử. Trong ý họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mạc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mạc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mạc Tử đâu có phải chuyện dễ. Đã khúc mắt mà lại nhiều: tất cả đến sáu bảy tập. Họ thuộc hết và chọnn những lúc đêm khuya thang vắng, họ sẽ cao giọng, ngâm một mình. Bài thơ đã biến thành bài kinh và người thơ đã trở nên một vì giáo chủ. Chế Lan Viên nói quả quyết: ‘Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử.’

Ngót một tháng trời tôi đã đọc thơ Hàn Mạc Tử. Tôi đã theo Hàn Mạc Tử từ lối thơ Đường đến vở kịch bằng thơ Quần Tiên Hội. Và tôi đã mệt lả. Chính như lời Hàn Mạc Tử nói trong bài tựa Thơ Điên, vườn thơ của người rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh. Bây giờ đã ra khỏi cái thế giới kỳ dị ấy và đã trở về với cuộc đời tầm thường mà ý nhị, tôi thử xếp đặt lại những cảm tưởng hỗn độn của tôi.

Thơ Đường Luật: Theo Ông Quách Tấn, Phan Sào Nam hồi trước xem Thơ Đường Luật Hàn Mạc Tử có viết trên báo đại khái nói: ‘Từ về nước đến nay, tôi được xem thơ quốc âm cũng khá nhiều, song chưa gặp được bài nào hay đến thế… Ôi hồng nam nhạn bắc, ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười lên một tiếng lớn ấy là thỏa hồn thơ đó.’ Thơ Đường Luật Hàn Mạc Tử làm ra nhiều nhưng bị thất lạc gần hết, tôi không được xem mấy bài. Song trong những bài tôi được xem, tôi cũng đã gặp ít câu hay, chẳng hạn như:

Dầu sao tôi vẫn nghĩ cái khuôn khổ bó buộc của luật Đường có lẽ không tiện cho sử nẩy nở một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng như nguồn thơ Hàn Mạc Tử.

Gái Quê: Nhiều bài có thể là của ai cũng được. Còn thì tả tình quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ bình dị. Nhưng tình ở đây không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối tình ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre, những đồi thông. Ấy là một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy hình ảnh khêu gợi. Ông Phạm Văn Kỳ đề tựa tập thơ ấy là phải lắm: Gái Quê và Une voix sur la voie đều bắt nguồn trong tình dục.

Thơ Điên: Thơ Điên gồm có ba tập:

1) Hương Thơm

2) Mật Đắng

3) Máu Cuồng và Hồn Điên

Hương Thơm: Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói. Một trời tình ái mới dựng lên đâu đây. Tuy có đôi vần đẹp, cảm giác chung nhạt tẻ thế nào.

Mật Đắng: Ta vẫn đi trong mờ mờ. Nhưng thỉnh thoảng một luồn sáng lạ chói cả mắt. Nguồn sáng tỏa ra từ một linh hồn vô cùng khổ não. Ta bắt gặp dấu tích còn hoi hóp của một tình duyên vừa chết yểu. Thất vọng trong tình yêu, chuyện ấy trong thơ ta không thiếu gì, nhưng thường là một thứ buồn dầu có thấm thía vẫn dịu dịu. Chỉ trong thơ Hàn Mạc Tử mới thấy một nỗi đau thương mãnh liệt như thế. Lời thơ như dính máu.

Xem thêm :  Nước ép củ dền: lợi ích sức khỏe và 6 công thức pha chế cực đơn giản

Máu Cuồng và Hồn Điên: Đến đây ta đã hoàn toàn ra khỏi cái thế giới thực và cái thế giới mộng của ta. Xa lắm rồi. Ta thấy những gì chung quanh ta? Trăng, toàn trăng, một ánh trăng gắt gao, ghê tởm, linh động như một người hay đúng hơn một yêu tinh. Trăng ở đây cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo và cũng náo nức dục tình. Hàn Mạc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra, và rú lên những tiếng ghê người… Ta rùng mình, ngơ ngác, ta đã lục lọi khắp trong đáy lòng ta, ta không thấy có tí gì giống cái cảnh trước mắt. Trời đất này thực của riêng Hàn Mạc Tử. Ta không hiểu được và chắc cũng không bao giờ ai hiểu được. Nghĩ thế ta bỗng thương con người cô độc. Đã cô độc ở kiếp này và e còn cô độc đến muôn kiếp. Hàn Mạc Tử chắc cũng biết thế nên lúc sinh thời người đã nguyền với Chúa sẽ không bao giờ cho xuất bản Thơ Điên. Một tác phẩm như thế, ta không có thể nói hay hay dở, nó đã ra ngoài vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn thơ cổ kim không có gì kinh dị hơn. Ta chỉ biết ta đương đứng trước một người sượng sần vì bệnh hoạn, điên cuồng vì đã quá đau khổ trong tình yêu. Cuộc tình duyên ra đời với tập Hương Thơm, hấp hối với tập Mật Đắng, đến đây thì đã chết thiệt rồi, nhưng khí lạnh còn tỏa lên nghi ngút.

Một nhà chuyên môn nghiên cứu những trạng thái kỳ dị của tâm linh người ta xem tập Máu Cuồng và Hồn Điên có lẽ sẽ lượm được nhiều tài liệu hơn một nhà phê bình văn nghệ. Tuy thế, đây đó ta gặp những câu rất hay.

Như tả cảnh đồi núi một đêm trăng có câu:

Đọc những câu ấy có cái thú vị ở xứ lạ gặp người quen, vì đó là những cảm giác ta có thể có. Lại có khi những cảm giác ở ta rất thường mà trong trí Hàn Mạc Tử rất dễ sợ. Một đám mây in hình dưới dòng nước thành ra:

Cái ý muốn mượn lời thơ để tả tâm sự mình cũng trở nên điên cuồng và đau đớn dị thường:

Tôi chỉ trích ra vào đoạn có thể thích được. Còn bao nhiêu đoạn nữa tuy ta không thích vì nó không có gì hợp với lòng ta, nhưng ta cũng biết rằng với Hàn Mạc Tử hẳn là những câu tuyệt diệu. Nó đã tả đúng tâm trạng của tác giả. Lời thơ có vẻ thành thực, thiết tha lắm.

Xuân Như Ý: Mùa xuân Hàn Mạc Tử nói đây có khi ở đâu hồi trời đất mới dựng lên, có khi ra đời một lần với Chúa Jésus, có khi hình như chỉ là mùa xuân đầu năm. Nhưng dầu sao cũng không phải là một mùa xuân ta vẫn quen biết. Đây là một mùa xuân trong tưởng tượng, một mùa xuân theo ý muốn của thi nhân, đầy dẫy những lời kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ. Nhất là ánh thơ. Với Hàn Mạc Tử thơ có một sự quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng Đế mà cũng để ban ơn phước cho cả và thiên hạ. Cho nên mỗi lần thi sĩ há miệng — sao lại há miệng? — cho thơ trào ra, làm chín từng mây náo động, muôn vì tinh tú xôn xao. Người sẽ thấy:

Hình như trong các thi phẩm xưa nay có tính cách tôn giáo khôngcó có gì giống như vậy. Hàn Mạc Tử đã dựng riêng một ngôi đền để thờ Chúa. Thiếu lòng tin, tôi chỉ là một du khách bỡ ngỡ không thể cùng quỳ lạy với thi nhân. Nhưng lòng tôi có dửng dưng, trí tôi làm sao không ngợp vì cái vẻ huy hoàng, trang trọng, linh lung, huyền ảo của lâu đài kia? Có những câu thơ đẹp một cách lạ lùng, đọc lên như rưới vào hồn một nguồn sáng láng. Xuân Như Ý rõ ràng là tập thơ hay nhất của Hàn Mạc Tử.

Với Hàn Mạc Tử Chúa gần lắm. Người đã tìm lại những rung cảm mạnh mẽ của các tín đồ đời Thượng cổ. Ta thấy phảng phất cái không khí Athalie. Cho nên mặc dầu thỉnh thoảng còn sót lại một hai dấu tích Phật Giáo, chắc những người đồng đạo chẳng vì thế mà làm khó dễ chi với di thảo của thi nhân.

Huống chi thơ Hàn Mạc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những tình cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể.

Thượng Thanh Khí: Một vài bài đặc sắc ghi lại những cảnh đã thấy trong chiêm bao, ở đâu giữa khoảng các vì tinh tú trên kia Đại khái không khác cảnh Xuân Như Ý mấy, chỉ thiếu tính cách tôn giáo, huyền bí nhưng không thiêng liêng.

Cẩm Châu Duyên: Một hai năm trước khi mất, sự tình cờ đưa đến trong đời Hàn Mạc Tử hình ảnh một giai nhân có cái tên khải ái: nàng Thương Thương. Nàng Thương Thương có lẽ chỉ yêu thơ Hàn Mạc Tử và Hàn Mạc Tử hình như cũng không biết gì hơn ngoài hai chữ Thương Thương. Nhưng như thế cũng đủ để thi nhân đưa nàng vào tháp thơ. Nàng sẽ luôn luôn đi về trong những giấc mơ của người. Có khi người mơ thấy mình là Tư Mã Tương Như đương nghe lời Trác Văn Quân năn nỉ:

Song những phút mơ khoái lạc ấy có được là bao. Tỉnh dậy, người thấy:

Ta tưởng nghe lời than của Huy Cận.

Nhưng cuộc đời đau thương kia đã đến lúc tàn, và nguồn thơ kia cũng đã đến lúc cạn. Hàn Mạc Tử chốc chốc lại ra ngoài biên giới thơ, lạc vào thế giới đồng bóng.

Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội: Mối tình đối với nàng Thương Thương còn khiến Hàn Mạc Tử viết ra hai vở kịch bằng thơ này nữa. Quần Tiên Hội viết chưa xong và không có gì. Duyên Kỳ Ngộ hay hơn nhiều. Đây là một giấc mơ tình ái, ngắn ngủi nhưng xinh tươi, đặt vào một khung cảnh tuyệt diệu. Thi nhân dẫn ta đến một chốn nước non thanh sạch chưa từng in dấu chân người. Ở đó tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng tiêu ngân đều biến thành những lời thơ tình tứ. Ở đó Hàn Mạc Tử sẽ gặp nàng Thương Thương mà người không mong được gặp ở kiếp này. Nàng sẽ nói với người những lời nồng nàn âu yếm khiến chim nước đều say sưa. Nhưng rồi người sẽ cùng tiếng tiêu cùng đi như vụt nhớ đến cái nghiệp nặng nề đương chờ người nơi trần thế. Và giữa lúc nàng gục đầu khóc, cảnh tiên lại rộn rã tiếng suối ca.

Trong thi phẩm Hàn Mạc Tử có lẽ tập thơ này là trong trẻo hơn cả. Còn từ Thơ Đường Luật với những câu:

cho đến Gái Quê, Thơ Điên, Xuân Như Ý và các tập khác, lời thơ thường vẩn đục.

* * *

Tôi đã nói hết cảm tưởng của tôi trong lúc đọc thơ Hàn Mạc Tử. Không có bao giờ tôi thấy cái việc phê bình thơ tàn ác như lúc này. Tôi nghĩ đến người đã sống trong một túp lều tranh phải lấy bì thư và giấy nhựt trình che mái nhà cho đỡ dột. Mỗi bữa cơm đưa đến người không sao nuốt được vì ăn khổ quá. Cảnh cơ hàn ấy và chứng bệnh kinh khủng đã bắt người chịu bao nhiêu phũ phàng, bao nhiêu ruồng rẫy. Sau cùng người bị vứt hẳn ra ngoài cuộc đời, bị giữ riêng một nơi, xa hết thảy mọi người thân thích. Tôi nghĩ đến bao nhiêu năm người bó tay nhìn cả thể phách lẫn linh hồn cùng tan rã…

Một người đau khổ nhường ấy, lúc sống ta hững hờ bỏ quên, bây giờ mất rồi ta xúm lại kẻ chê người khen. Chê hay khen tôi đều thấy có gì bất nhẫn.

—/—

Như vậy THPT Ninh Châu đã trình bày xong bài văn Nhận định về Hàn Mặc Tử. Hy vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: Đại Học Đông Đô

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12


Thơ Hàn Mặc Tử – Tập Thơ Đau Thương – Thơ Điên – Những bài thơ hay nhất Hàn Mặc Tử


Thơ Hàn Mặc Tử Tập Thơ Đau Thương Thơ Điên Những bài thơ hay nhất Hàn Mặc Tử được Thanh Bình Sưu tầm tuyển chọn.
Bên nào đang có BẢN QUYỀN chuyển thể hoặc dịch xin Liên hệ với Thanh Bình theo Fanpage hoăc email mcthanhbinh102@gmail.com. Mọi Khiếu nại Đúng Quy Định Thanh Bình sẽ xóa hết tất cả các video vi phạm, hoặc sẽ có phương án hợp tác. Thanks.\r
\r
Hãy đăng ký kênh để theo dõi truyện mới và các truyện cũ của MC THANH BÌNH NHÉ: \r
Kênh MC Thanh Bình : https://bom.to/M1YM2\r
Kênh Cafe Radio Biz : https://bom.to/rEvCc\r
Kênh Truyện Trinh Thám: https://bom.to/M1YM2\r
\r
Có yêu cầu khiếu nại về BẢN QUYỀN xin gửi email liên hệ về : mcthanhbinh102@gmail.com/ Mọi khiếu nại hợp lệ Thanh Bình sẽ xóa toàn bộ video.\r
thohanmactu
tapthodauthuong
thodienhanmactu
mcthanhbinh